iKnife là thiết bị được gọi là dao mổ thông minh có thể hỗ trợ bác sĩ xác định được tế bào ung thư trong lúc phẫu thuật. Người phát minh ra thiết bị này là Tiến sĩ Zoltan Takats đến từ Đại học Hoàng đế London, Anh.
Trong cuộc thử nghiệm đầu tiên tại phòng mổ, dao mổ iKnife chẩn đoán tế bào mô của 91 bệnh nhân với độ chính xác 100%, ngay lập tức cung cấp những thông tin quan trọng để bác sĩ kịp thời xử lý.
Chiếc dao mổ này hoạt động dựa trên phẫu thuật điện tử, các dao mổ sử dụng dòng điện để đốt mô nhanh chóng, cắt bỏ phần tổn thương trong khi giảm thiểu tình trạng mất máu.
Khi cắt, dao làm bốc hơi tế bào, và khói được tạo ra trong quá trình này thường được loại bỏ bằng các hệ thống hút. Hệ thống của dao iKnife phân tích khói tỏa ra, sử dụng phương pháp đo phổ khối lượng để xác định trong tích tắc các mô ung thư.
Điều này do các thành phần lipid trong khói có dấu ấn khác nhau tùy theo dạng mô. Bác sĩ sử dụng dao mổ thông minh có thể biết ngay tức thời dạng mô mà mình đang phải xử lý và từ đó đưa ra quyết định nhanh chóng.
Thứ Ba, 30 tháng 7, 2013
TÃ QUẦN THÔNG MINH
Một dòng sản phẩm mới "tã quần thông minh" có thể phân tích được nước tiểu để theo dõi tình trạng sức khoẻ của trẻ như nhiễm trùng đường tiết nệu, tiểu đường và sự khử nước. Do cặp vợ chồng Jennie Rubinshteyn và Yaroslav Faybishenko, cùng các nhà khoa học tại Bệnh viện Nhi Benioff, thuộc Trường đại học California (Mỹ) vừa được giới thiệu.
Ảnh minh họa
Tã quần thông minh (Smart Diaper) hiện đang ở giai đoạn nguyên mẫu. Chiếc tã này được gắn các cảm biến để theo dõi độ ẩm, hoạt động của vi khuẩn và nồng độ đường trong nước tiểu. Tã quần thông minh sẽ có mã QR code (mã vạch hai chiều) riêng để bố mẹ trẻ có thể tải dữ liệu về điện thoại thông minh của mình. Bố mẹ cũng có thể gửi dữ liệu này đến bác sĩ để chấn đoán tình trạng sức khỏe trẻ.
Hiện nay các nhà khoa học thuộc nhóm nghiên cứu, New York đang kêu gọi nguồn tài trợ 25.000 USD để đưa sản phẩm độc đáo này ra thị trường.
Thông qua website IndieGoGo họ đã có được 10.000 USD. Dự kiến, giá bán lẻ của loại tã thông minh này có thể cao hơn các loại tã thông thường khoảng 30%.
Ảnh minh họa
Tã quần thông minh (Smart Diaper) hiện đang ở giai đoạn nguyên mẫu. Chiếc tã này được gắn các cảm biến để theo dõi độ ẩm, hoạt động của vi khuẩn và nồng độ đường trong nước tiểu. Tã quần thông minh sẽ có mã QR code (mã vạch hai chiều) riêng để bố mẹ trẻ có thể tải dữ liệu về điện thoại thông minh của mình. Bố mẹ cũng có thể gửi dữ liệu này đến bác sĩ để chấn đoán tình trạng sức khỏe trẻ.
Hiện nay các nhà khoa học thuộc nhóm nghiên cứu, New York đang kêu gọi nguồn tài trợ 25.000 USD để đưa sản phẩm độc đáo này ra thị trường.
Thông qua website IndieGoGo họ đã có được 10.000 USD. Dự kiến, giá bán lẻ của loại tã thông minh này có thể cao hơn các loại tã thông thường khoảng 30%.
THIẾT BỊ DIỆT KHUẨN BẰNG ÁNH NẮNG MẶT TRỜI
Mặc dù nồi hấp tiệt trùng từ lâu là phương pháp tiêu chuẩn để khử trùng thiết bị y tế, nhưng giờ đây, các nhà nghiên cứu thuộc trường Đại học Rice, Hoa Kỳ đã chế tạo được một thiết bị mới gọi là Solarclave. Thiết bị này hoạt động bằng năng lượng mặt trời, có khả năng ngăn chặn hàng triệu ca nhiễm khuẩn mỗi năm do thiết bị y tế không được khử trùng.
Ảnh minh họa
Solarclave được thiết kế để hoạt động không cần nguồn điện bên ngoài. Mặc dù Viện công nghệ Masachusetts đã chế tạo được một thiết bị tương tự, nhưng đây là thiết bị đầu tiên qua được các thử nghiệm khử trùng của Cục quản lý thực phẩm và dược phẩm Hoa Kỳ.
Thiết bị này đặc biệt có ích trong các nước đang phát triển ít được tiếp cận với các nguồn cung cấp điện đáng tin cậy, nơi người dân dễ bị nhiễm khuẩn.
Trái ngược với máy hấp tiệt trùng cần có điện để sản sinh hơi nước, Solarclave sử dụng ánh nắng mặt trời và kim loại tái chế cũng như các hạt nano cacbon. Khi hòa trộn trong dung dịch nước, các hạt nano hấp thu năng lượng nhanh hơn chất lỏng xung quanh.
Khi ánh nắng mặt trời được thu vào đĩa gương, dung dịch nóng lên và chuyển đổi các phân tử nước thành hơi nước. Thiết bị này rất hiệu quả: nó chỉ sử dụng 20% năng lượng để đạt tới điểm này. 80% năng lượng còn lại được dành để duy trì hơi.
Nhóm nghiên cứu đã chế tạo được 2 mẫu Solarclave, mỗi mẫu được thử nghiệm khả năng diệt khuẩnGeobacillus stearothermophilus, vi khuẩn rất khó tiêu diệt bằng nhiệt. Trong vòng 30 phút, cả hai mẫu Solarclave đều xử lý hết các mẫu vi khuẩn. Theo dự báo của các nhà nghiên cứu, thiết bị này cuối cùng có thể được sử dụng để lọc nước hoặc thậm chí sản xuất điện.
Ảnh minh họa
Solarclave được thiết kế để hoạt động không cần nguồn điện bên ngoài. Mặc dù Viện công nghệ Masachusetts đã chế tạo được một thiết bị tương tự, nhưng đây là thiết bị đầu tiên qua được các thử nghiệm khử trùng của Cục quản lý thực phẩm và dược phẩm Hoa Kỳ.
Thiết bị này đặc biệt có ích trong các nước đang phát triển ít được tiếp cận với các nguồn cung cấp điện đáng tin cậy, nơi người dân dễ bị nhiễm khuẩn.
Trái ngược với máy hấp tiệt trùng cần có điện để sản sinh hơi nước, Solarclave sử dụng ánh nắng mặt trời và kim loại tái chế cũng như các hạt nano cacbon. Khi hòa trộn trong dung dịch nước, các hạt nano hấp thu năng lượng nhanh hơn chất lỏng xung quanh.
Khi ánh nắng mặt trời được thu vào đĩa gương, dung dịch nóng lên và chuyển đổi các phân tử nước thành hơi nước. Thiết bị này rất hiệu quả: nó chỉ sử dụng 20% năng lượng để đạt tới điểm này. 80% năng lượng còn lại được dành để duy trì hơi.
Nhóm nghiên cứu đã chế tạo được 2 mẫu Solarclave, mỗi mẫu được thử nghiệm khả năng diệt khuẩnGeobacillus stearothermophilus, vi khuẩn rất khó tiêu diệt bằng nhiệt. Trong vòng 30 phút, cả hai mẫu Solarclave đều xử lý hết các mẫu vi khuẩn. Theo dự báo của các nhà nghiên cứu, thiết bị này cuối cùng có thể được sử dụng để lọc nước hoặc thậm chí sản xuất điện.
MIẾNG DÁN CHỐNG MUỖI
Các nhà nghiên cứu thuộc phòng thí nghiệm Olfactor và Đại học California ở Riverside, Hoa Kỳ đã chế tạo được miếng dán Kite Patch chống muối. Khi dán lên quần áo hoặc túi xách, miếng dán sẽ làm cho bạn trở nên vô hình với những con muỗi.
Ảnh minh họa
Theo Michele Brown, trưởng nhóm nghiên cứu, miếng dán sử dụng các hợp chất không độc hại để ngăn chặn khả năng muỗi tìm thấy con người thông qua CO2 con người thải ra.
Miếng dán được làm từ các vật liệu vừa dẻo vừa nhẹ ngoài ra còn chứa các thành phần họat tính. Kite Patch dự kiến sẽ được phân phối trên toàn thế giới trong vòng 14 tháng tới.
Ảnh minh họa
Theo Michele Brown, trưởng nhóm nghiên cứu, miếng dán sử dụng các hợp chất không độc hại để ngăn chặn khả năng muỗi tìm thấy con người thông qua CO2 con người thải ra.
Miếng dán được làm từ các vật liệu vừa dẻo vừa nhẹ ngoài ra còn chứa các thành phần họat tính. Kite Patch dự kiến sẽ được phân phối trên toàn thế giới trong vòng 14 tháng tới.
NGHIÊN CỨU MỚI VỀ PHÂN TÍCH TIẾNG KHÓC TRẺ SƠ SINH
Phân tích tiếng khóc của trẻ là một lĩnh vực đã được nghiên cứu trong nhiều thập kỷ qua. Một công cụ được sử dụng trên máy tính nhằm phát hiện các vấn đề về phát triển và thần kinh ở trẻ sơ sinh bằng cách phân tích tiếng khóc của bé. Được nghiên cứu do nhóm các chuyên gia đến từ Đại học Brown cùng phối hợp với Bệnh viện phụ nữ và trẻ sơ sinh ở Mỹ.
Ảnh minh họa
Tiếng khóc của trẻ sẽ được công cụ này ghi âm lại và chia nhỏ thành những khung chỉ 12,5 mili giây, sau đó phân tích mỗi khung này để có được những thông số như là cường độ và âm lượng. Tất cả dữ liệu này được kết hợp lại nhằm đưa ra tổng quát về tiếng khóc của trẻ.
Hệ thống xử lý cũng sẽ phân biệt giữa tiếng khóc và những khoảng dừng ở giữa. Độ dài của tiếng khóc và các khoảng dừng sẽ được ghi lại cũng như những thay đổi về độ cao thấp và các biến số khác xuất hiện trong mỗi tiếng khóc. Kết quả là, có tổng cộng 80 thông số được xác định cho từng lần khóc của trẻ.
Ông Barry Lester, giám đốc trung tâm nghiên cứu trẻ có nguy cơ của Đại học Brown, cho biết: "Phát hiện sớm các rối loạn phát triển đóng vai trò rất quan trọng. Nó có thể giúp chúng ta hiểu rõ nguyên nhân và kịp thời đưa ra các biện pháp can thiệp nhằm ngăn chặn hoặc giảm bớt mức độ nghiêm trọng của bệnh". Từ những thay đổi này, họ có thể tìm ra biến số nào là dấu hiệu của chứng rối loạn nào bé đang mắc phải, chẳng hạn như bệnh tự kỷ.
Ảnh minh họa
Tiếng khóc của trẻ sẽ được công cụ này ghi âm lại và chia nhỏ thành những khung chỉ 12,5 mili giây, sau đó phân tích mỗi khung này để có được những thông số như là cường độ và âm lượng. Tất cả dữ liệu này được kết hợp lại nhằm đưa ra tổng quát về tiếng khóc của trẻ.
Hệ thống xử lý cũng sẽ phân biệt giữa tiếng khóc và những khoảng dừng ở giữa. Độ dài của tiếng khóc và các khoảng dừng sẽ được ghi lại cũng như những thay đổi về độ cao thấp và các biến số khác xuất hiện trong mỗi tiếng khóc. Kết quả là, có tổng cộng 80 thông số được xác định cho từng lần khóc của trẻ.
Ông Barry Lester, giám đốc trung tâm nghiên cứu trẻ có nguy cơ của Đại học Brown, cho biết: "Phát hiện sớm các rối loạn phát triển đóng vai trò rất quan trọng. Nó có thể giúp chúng ta hiểu rõ nguyên nhân và kịp thời đưa ra các biện pháp can thiệp nhằm ngăn chặn hoặc giảm bớt mức độ nghiêm trọng của bệnh". Từ những thay đổi này, họ có thể tìm ra biến số nào là dấu hiệu của chứng rối loạn nào bé đang mắc phải, chẳng hạn như bệnh tự kỷ.
Thứ Hai, 15 tháng 7, 2013
ỨNG DỤNG ĐIỆN THOẠI THÔNG MINH GIÚP NGĂN NGỪA BỆNH BÉO PHÌ
Sử dụng một ứng dụng điện thoại đơn giản chụp lại bữa ăn của một người là cách trợ giúp giảm béo hữu ích, theo một cuộc thử nghiệm.
Ứng dụng có ba phần:
- trước khi ăn hoặc uống nước giải khát, người sử dụng chụp lại một bức hình thức mà họ chuẩn bị ăn/uống.
- sau khi ăn/uống, người đó xem lại bức ảnh đã chụp, và trả lời các câu hỏi như: “Bạn có ăn hết không?” và “Bạn có no lắm không?”
- trước một bữa ăn, người đó cũng xem lại những bức ảnh đã chụp các bữa trước đó trong ngày, và nhận được một tin nhắn khiến họ tự nhắc bản thân về những thứ họ đã ăn.
Các nghiên cứu viên tuyển chọn ra 12 người bị thừa cân hoặc mắc bệnh béo phì và giám sát họ trong 4 tuần trong một nghiên cứu thí điểm quy mô nhỏ. Những tình nguyện viên trung bình truy cập ứng dụng này 5 lần một ngày, và ghi lại 2,7 “tập” hàng ngày về việc ăn và uống.
Trong thời gian nghiên cứu, những người tham gia trung bình giảm được 1,5 kg.
Sáu người giảm 1 kg hoặc hơn và bốn người giảm dưới 1 kg, mặc dù hai người còn lại tăng cân, tương ứng 100 và 400 gr.
“Việc tăng cường nhận thức về việc ăn uống và việc giảm cân đã đạt được cho thấy hướng tiếp cận này có thể thành công”, điều tra viên Eric Robinson của ĐẠi học Liverpool cho biết.
“Do thử nghiệm của chúng tôi là một can thiệp rất ngắn với ít thời gian tiếp xúc và không có tư vấn hay hỗ trợ dinh dưỡng, đây vẫn là một phát minh đầy hứa hẹn”.
Công trình này được công bố tại Hội nghị về bệnh béo phì Châu Âu tại Liverpool, Tây Bắc nước Anh.
- trước một bữa ăn, người đó cũng xem lại những bức ảnh đã chụp các bữa trước đó trong ngày, và nhận được một tin nhắn khiến họ tự nhắc bản thân về những thứ họ đã ăn.
Các nghiên cứu viên tuyển chọn ra 12 người bị thừa cân hoặc mắc bệnh béo phì và giám sát họ trong 4 tuần trong một nghiên cứu thí điểm quy mô nhỏ. Những tình nguyện viên trung bình truy cập ứng dụng này 5 lần một ngày, và ghi lại 2,7 “tập” hàng ngày về việc ăn và uống.
Trong thời gian nghiên cứu, những người tham gia trung bình giảm được 1,5 kg.
Sáu người giảm 1 kg hoặc hơn và bốn người giảm dưới 1 kg, mặc dù hai người còn lại tăng cân, tương ứng 100 và 400 gr.
“Việc tăng cường nhận thức về việc ăn uống và việc giảm cân đã đạt được cho thấy hướng tiếp cận này có thể thành công”, điều tra viên Eric Robinson của ĐẠi học Liverpool cho biết.
“Do thử nghiệm của chúng tôi là một can thiệp rất ngắn với ít thời gian tiếp xúc và không có tư vấn hay hỗ trợ dinh dưỡng, đây vẫn là một phát minh đầy hứa hẹn”.
Công trình này được công bố tại Hội nghị về bệnh béo phì Châu Âu tại Liverpool, Tây Bắc nước Anh.
GỪNG CÓ THỂ GIÚP CHỮA TRỊ TRIỆU CHỨNG HEN SUYỄN
Các Viện Y tế Quốc gia Hoa Kỳ ước tính có khoảng 300 triệu người trên thế giới bị chứng hen suyễn. Một nghiên cứu mới cho thấy gừng có thể giúp cho những người bị hen suyễn thở dễ dàng hơn.
Đã có nhiều loại thuốc thông dụng được dùng để làm dịu bớt các tác động của bệnh – như các thứ thuốc thuộc nhóm beta-agonist – có tác dụng làm giãn các cơ trơn của khí quản, giúp không khí vào và thoát ra phổi dễ dàng hơn.
Các nhà nghiên cứu thuộc đại học Columbia, trong khi nghiên cứu với các mẫu mô khí quản của con người, phát hiện ra rằng các thành tố được thanh lọc của gừng có thể làm tăng tác dụng của các loại thuốc như vậy.
Trong buổi thuyết trình trước Hội Nghị Quốc Tế của Hiệp hội nghiên cứu các bệnh về ngực của Mỹ, nhà nghiên cứu Elizabeth Townsend giải thích rằng các thành tố trong gừng ức chế một loại enzyme và cấu trúc của một protein giữ một vai trò trong sự co thắt các cơ trơn của khí quản.
Đã có nhiều loại thuốc thông dụng được dùng để làm dịu bớt các tác động của bệnh – như các thứ thuốc thuộc nhóm beta-agonist – có tác dụng làm giãn các cơ trơn của khí quản, giúp không khí vào và thoát ra phổi dễ dàng hơn.
Các nhà nghiên cứu thuộc đại học Columbia, trong khi nghiên cứu với các mẫu mô khí quản của con người, phát hiện ra rằng các thành tố được thanh lọc của gừng có thể làm tăng tác dụng của các loại thuốc như vậy.
Trong buổi thuyết trình trước Hội Nghị Quốc Tế của Hiệp hội nghiên cứu các bệnh về ngực của Mỹ, nhà nghiên cứu Elizabeth Townsend giải thích rằng các thành tố trong gừng ức chế một loại enzyme và cấu trúc của một protein giữ một vai trò trong sự co thắt các cơ trơn của khí quản.
Bà cho biết, “Bằng cách tìm hiểu các thành tố trong gừng ảnh hưởng đến đường hô hấp, chúng ta có thể tìm cách sử dụng những phương pháp điều trị này để giúp giảm bớt các triệu chứng của cơn hen suyễn.
Các nhà nghiên cứu nói rằng họ dự định nghiên cứu xem liệu sử dụng các thành tố này của gừng trong các loại thuốc xịt có thể giúp chữa trị các cơn hen suyễn hay không.
Các nhà nghiên cứu nói rằng họ dự định nghiên cứu xem liệu sử dụng các thành tố này của gừng trong các loại thuốc xịt có thể giúp chữa trị các cơn hen suyễn hay không.
CÓ THỂ ĐIỀU TRỊ BỆNH HEN SUYỄN BẰNG VITAMIN D
Ở Anh có hơn 5 triệu người bị hen suyễn, trong đó có 1,4 triệu trẻ em, và căn bệnh này gây ra 1.400 ca tử vong mỗi năm. Hen suyễn là bệnh viêm đường hô hấp, gây ra khó thở và thở khò khè, có thể gây tử vong.
Theo các nhà khoa học, IL -17A là một chất hóa học tự nhiên có tác dụng giúp cơ thể chống nhiễm trùng, nhưng lại làm trầm trọng thêm các triệu chứng của bệnh hen suyễn và làm giảm lượng steroids (là các hợp chất chất béo hữu cơ hòa tan có nguồn gốc tự nhiên hoặc tổng hợp).
Qua kết quả nghiên cứu, các bệnh nhân hen suyễn có lượng IL-17A cao hơn nhiều lần so với người bình thường, và bệnh nhân hen kháng steroids có mức IL-17A cao nhất. Các thử nghiệm sau đó cho thấy vitamin D giúp cắt giảm đáng kể lượng IL-17A trong các tế bào của tất cả bệnh nhân.
Cho đến nay, các loại thuốc mặc dù khá hiệu quả, nhưng vẫn chưa thể chữa trị cho bệnh nhân hen suyễn. Vì vậy, việc nghiên cứu những phương thuốc mới là rất quan trọng.
CÔNG CỤ HUỲNH QUANG MỚI PHỤC VỤ CHO CHẨN ĐOÁN UNG THƯ
Trong những năm gần đây, microARN (miARN) và các ARN không mã hóa là những phân tử nhỏ giúp kiểm soát biểu hiện của những protein đặc biệt. Gần đây chúng nổi bật với vai trò làm dấu ấn sinh học cho các loại bệnh. Các mẫu miARN được sử dụng để thiết lập mô gốc cho các bệnh ung thư từ căn nguyên chưa biết rõ, chẩn đoán, xác định bệnh, theo dõi phản ứng điều trị và tầm soát bệnh, nhưng dễ xử lý lâm sàng, phương pháp chẩn đoán để theo dõi biểu hiện của miARN trong các mẫu bệnh hiện không có sẵn.
Trong số này của Tạp chí nghiên cứu lâm sàng, Thomas Tuschl và các đồng nghiệp tại Đại học Rockefeller đã phát triển phương pháp huỳnh quang đa sắc tạo nhãn phương pháp có thể sử dụng để hiển thị hóa miARN trong các phần mô, chẳng hạn như những phần đã phục hồi từ sinh tiết.
Sử dụng phương pháp này, Tuschl và các đồng nghiệp có thể xác định miARN cụ thể khối u trong ung thư biểu mô tế bào cơ sở và ung thư biểu mô tế bào Merkel và phân biệt giữa các phần FFPE từ hai loại khối u này.
Nghiên cứu chứng minh khái niệm này chỉ ra rằng ARN FISH có thể phụ trách như một chẩn đoán phân tử tỏng một thử nghiệm lâm sàng. Trong một bài bình luận đi kèm, Gennadi Glinsky của Đại học Stanford bàn luận về cách công nghệ này có thể đóng góp vào sự phát triển của việc chẩn đoán và phương pháp điều trị dựa trên ARN.
VẮC XIN PHÒNG TIÊU CHẢY KHI DU LỊCH
Các nhà khoa học Anh tuyên bố đã bào chế được một loại vắc-xin phòng ngừa bệnh tiêu chảy khi đi du lịch.
Bệnh tiêu chảy du lịch thường do vi khuẩn Enterotoxigenic escherichia coli (E.E.coli) gây ra. Vi khuẩn này hiện diện ở mọi nơi, thậm chí trong ruột già của chúng ta.
Theo các nhà sáng chế, vắc-xin của họ không chỉ giúp phòng ngừa vi khuẩn E.E.coli mà còn giúp tạo ra lá chắn bảo vệ trước vi khuẩn Salmonella - thủ phạm gây bệnh thương hàn, một nỗi ám ảnh khác của du khách.
Trưởng nhóm nghiên cứu, Giáo sư Nigel Slater, cho biết: "Vắc-xin của chúng tôi là dạng bột nên rất ổn định và không cần phải được bảo quản lạnh hoặc có bất kỳ vấn đề nào liên quan đến kim tiêm... Nếu bạn chuẩn bị đi nghỉ mát hoặc đi công tác tới Ấn Độ hoặc bất kỳ quốc gia nào nổi tiếng là có bệnh tiêu chảy và thương hàn, bạn chỉ cần nuốt một viên con nhộng chứa vắc-xin".
Do không cần bảo quản trong tủ lạnh, loại vắc-xin mới này có thể đặc biệt hữu dụng ở các nước đang phát triển, nơi bảo quản vắc-xin truyền thống đôi khi gặp khó khăn.
MÁY TÍNH ĐỌC SUY NGHĨ CÓ THỂ GIAO TIẾP VỚI BỆNH NHÂN HÔN MÊ
Các nhà nghiên cứu Canada đã phát triển được máy tính đọc suy nghĩ, giúp liên lạc với bệnh nhân hôn mê. Họ đã sử dụng phương pháp chụp ảnh não bằng kỹ thuật không xâm lấn để đọc suy nghĩ của con người thông qua họat động của não khi họ truyền tải các câu trả lời có hoặc không.
Theo các nhà nghiên cứu, việc thể hiện suy nghĩ của con người từ họat động não mà không phụ thuộc vào lời nói hoặc hành động, là một trong những thách thức lớn lao của ngành khoa học thần kinh hiện đại.
Cụ thể, bệnh nhân hoàn toàn có ý thức và tỉnh táo, nhưng do tổn thương não, họ không thể thể hiện bất cứ hành vi tương ứng, cho thấy những hạn chế của hệ thống thần kinh cơ và cần có các hình thức giao tiếp thay thế.
Những người tham gia nghiên cứu được hỏi tập trung vào câu trả lời có hoặc không cho các câu hỏi như “Bạn đã có gia đình chưa?” hay “Bạn có anh chị em không?” và chỉ nghĩ đến câu trả lời, chứ không được nói.
Phương pháp mới này cho phép người khỏe mạnh trả lời các câu hỏi trong máy quét chỉ bằng cách chú ý đến từ họ muốn truyền đạt.
Bằng cách quan sát họat động não của những người tham gia, họ có thể giải mã các câu trả lời chính xác cho mỗi cá nhân. Đa số những người tình nguyện truyền đi các câu trả lời trong thời gian quét là 3 phút, khoảng thời gian thích hợp để liên lạc với các giao diện não - máy tính.
Giờ đây, các nhà nghiên cứu đang áp dụng phương pháp này để giao tiếp với các bệnh nhân không có hành vi phản ứng, có thể bị chuẩn đoán nhầm là trong trạng thái thực vật.
LIỆU PHÁP PHỤC HỒI THỊ LỰC DỄ DÀNG VÀ HIỆU QUẢ
Các nhà nghiên cứu thuộc trường Đại học California, Hoa Kỳ đã đưa ra một phương pháp dễ dàng và hiệu quả hơn nhiều để cấy ghép gen vào các tế bào mắt, giúp phục hồi thị lực cho các bệnh nhân mù lòa vì các khuyết tật di truyền như viêm võng mạc sắc tố cho đến các bệnh thoái hóa do tuổi già như thoái hóa điểm vàng.
Khác với các phương pháp điều trị hiện nay, phương pháp mới diễn ra chừng 15 phút theo hướng không xâm lấn bằng phẫu thuật và cung cấp các gen bình thường cho những tế bào khó tiếp cận trong toàn bộ võng mạc.
Trong 6 năm qua, một số nhóm nghiên cứu đã chữa trị thành công cho các bệnh nhân bị bệnh mắt di truyền hiếm gặp bằng cách tiêm trực tiếp virus chứa một gen bình thường vào trong võng mạc của mắt có gen bị thoái hóa. Dù là qui trình xâm lấn, nhưng virus chứa gen bình thường không thể đến với tất cả các tế bào võng mạc cần điều trị.
David Schaffer, GS kỹ thuật hóa học và phân tử sinh học và là Giám đốc Trung tâm tế bào gốc Berkeley thuộc trường Đại học California cho rằng: Chọc kim xuyên qua võng mạc và tiêm virus biến đổi gen vào sau võng mạc là thủ thuật phẫu thuật nguy hiểm. Nhưng, các bác sĩ không có sự lựa chọn khác vì không có virus cung cấp gen nào có thể di chuyển ra phía sau của mắt để tiếp cận các tế bào tiếp nhận ánh sáng, đó là các tế bào nhạy cảm ánh sáng cần gen trị liệu.
Dựa vào nghiên cứu trong vòng 14 năm, hiện giờ, họ đã tạo ra một virus mà chỉ cần tiêm vào dịch thủy tinh lỏng trong mắt. Nó sẽ cung cấp gen cho quần thể tế bào khó tiếp cận theo hướng không xâm lấn bằng phẫu thuật và an toàn. Thủ tục diễn ra trong 15 phút và bệnh nhân có thể trở về nhà ngay hôm đó.
Virus biến đổi gen họat động tốt hơn nhiều so với những liệu pháp hiện nay và có thể thâm nhập các tế bào tiếp nhận ánh sáng trong mắt của khỉ giống với mắt người.
Nhóm nghiên cứu đang cộng tác với các bác sỹ để xác định những bệnh nhân nhiều khả năng được hưởng lợi từ kỹ thuật cung cấp gen này và sau một số phát triển tiền lâm sàng, hy vọng sẽ sớm có các thử nghiệm lâm sàng.
Khai thác virus lành tính cho liệu pháp gen
Ba nhóm nghiên cứu đã phục hồi thành công phần nào thị lực cho hơn 10 người bị bệnh hiếm gặp gọi là mù bẩm sinh Leber, dẫn đến mất hòan toàn thị lực vào giai đoạn đầu của tuổi trưởng thành. Để làm được điều này, họ đã cấy ghép gen vào các virus kết hợp adeno (AAV) - virus đường hô hấp phổ biến nhưng lành tính và tiêm các virus này trực tiếp vào võng mạc. Các tế bào tiếp nhận ánh sáng tiếp nhận virus và kết hợp gen chức năng vào trong các nhiễm sắc thể của chúng để tạo thành một protein quan trọng mà gen khiếm khuyết không thể làm được, phục hồi tế bào tiếp nhận ánh sáng và thị lực.
Đáng tiếc, kỹ thuật này không thể áp dụng cho tất cả các bệnh mù lòa vì kim được dùng thường làm bong võng mạc, làm cho tình hình xấu hơn. Tuy nhiên, virus AAV thông thường sử dụng trong mắt và các loại liệu pháp gen khác không thể xâm nhập vào mô để đến với các tế bào tiếp nhận ánh sáng và những tế bào khác như biểu mô sắc tố võng mạc. Võng mạc dày hơn khoảng 100.000 lần so với AVV, kích thước khoảng 20 nano mét.
Nhiều năm trước, Schaffer đã tìm cách phát triển virus AAV để xâm nhập vào các mô gồm có mắt và gan để cung cấp gen cho các tế bào cụ thể. Đến nay, ông đã tạo ra được 100 triệu biến thể AAV, mỗi biến thể chứa những protein hơi khác nhau trên màng của nó. Từ đó, ông và các cộng sự đã lựa chọn được 5 biến thể AAV thâm nhập võng mạc hiệu quả. Sau đó, họ đã sử dụng AAV tốt nhất để vận chuyển gen chữa trị 2 loại bệnh mù lòa di truyền gồm bong võng mạc bẩm sinh và mù bẩm sinh Leber cho chuột. Trong mỗi trường hợp, khi tiêm vào dịch thủy tinh, virus AAV cung cấp gen điều chỉnh cho tất cả các vùng của võng mạc và phục hồi tế bào võng mạc gần như bình thưởng.
Khi tiêm vào mắt của khỉ bình thường, virus đưa các tế bào qua võng mạc một cách không đều nhưng gần như hoàn toàn trong khu vực hố mắt. Các virus hiện nay không đưa được các tế bào này vào khu vực này.
Shaffer dự báo, virus có thể được sử dụng không chỉ để cấy ghép các gen phục hồi chức năng cho các gen không họat động, mà có thể tiêu diệt các gen hoặc tạm dừng các qui trình tích cực phá hủy các tế bào võng mạc, là trường hợp thoái hóa điểm vàng do tuổi già.
GIẢM CÂN CÓ THỂ TĂNG CƯỜNG TRÍ NHỚ
Giảm trọng lượng cơ thể không chỉ tốt cho sức khỏe của người béo, mà còn giúp họ cải thiện trí nhớ. Tiến sĩ Andreas Pettersson, trưởng nhóm nghiên cứu thuộc Đại học Umea - Thụy Điển, cho biết: “Sự suy giảm trí nhớ do béo phì là tình trạng mà chúng ta có thể đảo ngược”. Đây là một trong những động cơ mới để những người béo tìm cách giảm cân.
Để tìm hiểu mối quan hệ giữa giảm cân và trí nhớ, các nhà khoa học của Đại học Umea, đã tuyển 20 phụ nữ có khối lượng cơ thể trên mức trung bình. Tuổi đời trung bình của họ là 61.
Ban đầu họ theo dõi hoạt động não của đối tượng nghiên cứu khi họ thực hiện bài kiểm tra khả năng ghi nhớ khuôn mặt. Sau đó yêu cầu 9 người ăn khẩu phần dành cho người muốn giảm cân.
Sau 6 tháng, khối lượng cơ thể của 9 người ăn kiêng giảm, trong khi khối lượng của 11 người kia giữ nguyên hoặc tăng. Họ lại tiếp tục yêu cầu 20 phụ nữ thực hiện bài kiểm tra trí nhớ. Nhóm nghiên cứu nhận thấy khả năng ghi nhớ của 9 người ăn kiêng tăng rõ rệt so với bài kiểm tra trước, trong khi khả năng ghi nhớ của 11 người kia không hề khá hơn.
Trước đây đã có những nghiên cứu chứng minh khả năng ghi nhớ phân đoạn của người béo giảm khi khối lượng cơ thể của họ tăng. Trí nhớ phân đoạn giúp con người ghi nhớ các sự kiện trong suốt cuộc đời. Tuy nhiên, trí nhớ của nhiều phụ nữ béo và lớn tuổi cải thiện rõ rệt sau khi họ giảm cân nhờ điều chỉnh chế độ ăn.
HỎI VỀ TINH DẦU THIÊN NHIÊN TỔNG HỢP TRỊ MỤN VÀ THẢO DƯỢC UỐNG TRONG
Hỏi : Cháu bị mụn đã gần 10 năm,chữa bằng nhiều phương pháp nhưng không thấy hiệu quả.Hiện nay trên mặt rất nhiều mụn và vết thâm do mụn để lại.Cháu được bạn cùng lớp giới thiệu cho dùng Tinh dầu thiên nhiên tổng hợp trị mụn và thảo dược uống trong.Xin Bác sĩ cho cháu biết tác dụng của thuốc này?
THIẾT BỊ Y TẾ SẼ GIẢM ĐÁNG KỂ SỐ LẦN PHẪU THUẬT UNG THƯ VÚ
Các sinh viên thuộc trường Đại học Jonhs Hopkins, Hoa Kỳ đã chế tạo được một thiết bị y tế, có thể giảm một nửa số lần phẫu thuật loại bỏ các tế bào ung thư vú.
Trong quá trình phẫu thuật ung thư vú, các bác sỹ không thể chụp mô để kiểm tra xem tất cả các tế bào ung đã được lấy đi chưa vì hàm lượng mỡ cao trong các mẫu.
Thiết bị mới gắn một màng dính vào mô vú. Sau đó, các nhà nghiên cứu chụp các mẫu mô này trong 20 phút phẫu thuật. Nếu các tế bào ung thư vú vẫn còn, các bác sỹ có thể loại bỏ chúng trong lúc bệnh nhân vẫn ở trên bàn mổ, do đó, không cần phẫu thuật lần 2 hoặc lần 3.
Đến nay, thiết bị đã được thử nghiệm trên mô động vật và các mẫu vú của người trong ngân hàng mô, nhưng vẫn chưa được áp dụng trên các bệnh nhân ung thư vú.
TẤT CÀ PHÊ GIỮ CHO CHÂN KHÔ THOÁNG VÀ KHÔNG MÙI
Hãng xuất quần áo Apollo đã tạo ra sản phẩm tất công nghệ cao gọi là Atlas hứa hẹn giữ cho đôi chân bạn thoáng mát và thoải mái một phần nhờ vào cà phê.
Tất Atlas được làm từ chất liệu hỗn hợp cotton, polyeste tái chế và cà phê các bon hóa, lọc và hấp thu mồ hôi và mùi giữ cho chân khô thoáng. Cà phê các bon hóa là vũ khí chống mùi hôi, hút các phân tử bằng cấu trúc xốp của nó. Các phân tử này cuối cùng được giải phóng khi giặt tất.
Cà phê phải trải qua qui trình dược phẩm để xử lý dầu và hương vị đặc trưng. Sau đó, nó được kết hợp vào sợi polyeste tái chế. Các thí nghiệm cho thấy tất Atlas có hiệu quả hút mùi hơn 3 lần so với tất cotton bình thường.
Sản phẩm dự kiến có giá thành 28 USD.
VI KHUẨN LIÊN LẠC ĐỂ HỖ TRỢ LẪN NHAU CHỐNG KHÁNG SINH.
Nghiên cứu mới từ Đại học Western làm sáng tỏ một phương thức mới của việc liên lạc cho phép vi khuẩn như Burkholderia cenocepacia (B. cenoceparia) chống lại kháng sinh điều trị. B. cenoceparia là một loại vi khuẩn môi trường gây ra nhiễm trùng nghiêm trọng ở bệnh nhân xơ nang (CF) hoặc có hệ miễn dịch bị tổn hại.
Tiến sĩ Miguel Valcano và tác giả đầu tiên Omar El-Hafawy, dự tuyển Tiến sĩ, cho thấy rằng các tế bào kháng thuốc kháng sinh trong một quần thể vi khuẩn sản xuất và chia sẻ các phân tử nhỏ với các tế bào ít kháng càng nhiều, làm cho chúng càng có khả năng chống lại kháng sinh tiêu diệt. Những phân tử nhỏ này, có nguồn gốc từ các axit amin bị biến đổi (các khối cấu trúc sử dụng để tạo ra các protein), bảo vệ không chỉ những tế bào nhạy cảm hơn của B. cenoceparia mà cả vi khuẩn khác bao gồm thể sinh bệnh CF rất phổ biến, Pseudomonas aeruginosa, và E. coli. Nghiên cứu được đăng trên tạp chí PLOS ONE.
“Những phát hiện này cho thấy một cơ chế mới của sự chống kháng vi sinh vật dựa trên giao tiếp hóa học giữa các tế bào vi khuẩn bằng các phân tử nhỏ bảo vệ chống lại tác dụng của thuốc kháng sinh”, Tiến sĩ Valvano, trợ giảng tại Khoa vi trùng học và miễn dịch học tại trường Y khoa và Nha khoa Schulich của Wester, hiện đang là giáo sư và chủ tịch tại Đại học Nữ hoàng Belfast, cho biết. “Điều này mở đường để thiết kế các loại thuốc mới ngăn chặn những tác động của các hóa chất này, như vậy làm giảm đáng kể gánh nặng của sự chống kháng vi sinh vật”.
“Những phân tử nhỏ này có thể được tận dụng và sản xuất bởi gần như tất cả vi khuẩn với những ngoại lệ giới hạn, vì vậy chúng tôi có thể coi những phân tử nhỏ này như một ngôn ngữ chung có thể được hiểu bởi hầu hết vi khuẩn”, El Halfawy nói, ông cho rằng những phát hiện này rất thú vị. “Một cách khác mà Burkholderia giao tiếp mức kháng cao của nó là bằng cách giải phóng các protein nhỏ để càn quét, và liên kết với kháng sinh gây chết người, do đó làm giảm hiệu quả của chúng”. Bước tiếp theo là tìm cách để ngăn chặn hiện tượng này.
Nghiên cứu thực hiện tại Western, được tài trợ bởi khoản trợ cấp từ Xơ nang Canađa và cũng thông qua trợ cấp Marie Curie Career Integration.
Tiến sĩ Miguel Valcano và tác giả đầu tiên Omar El-Hafawy, dự tuyển Tiến sĩ, cho thấy rằng các tế bào kháng thuốc kháng sinh trong một quần thể vi khuẩn sản xuất và chia sẻ các phân tử nhỏ với các tế bào ít kháng càng nhiều, làm cho chúng càng có khả năng chống lại kháng sinh tiêu diệt. Những phân tử nhỏ này, có nguồn gốc từ các axit amin bị biến đổi (các khối cấu trúc sử dụng để tạo ra các protein), bảo vệ không chỉ những tế bào nhạy cảm hơn của B. cenoceparia mà cả vi khuẩn khác bao gồm thể sinh bệnh CF rất phổ biến, Pseudomonas aeruginosa, và E. coli. Nghiên cứu được đăng trên tạp chí PLOS ONE.
“Những phát hiện này cho thấy một cơ chế mới của sự chống kháng vi sinh vật dựa trên giao tiếp hóa học giữa các tế bào vi khuẩn bằng các phân tử nhỏ bảo vệ chống lại tác dụng của thuốc kháng sinh”, Tiến sĩ Valvano, trợ giảng tại Khoa vi trùng học và miễn dịch học tại trường Y khoa và Nha khoa Schulich của Wester, hiện đang là giáo sư và chủ tịch tại Đại học Nữ hoàng Belfast, cho biết. “Điều này mở đường để thiết kế các loại thuốc mới ngăn chặn những tác động của các hóa chất này, như vậy làm giảm đáng kể gánh nặng của sự chống kháng vi sinh vật”.
“Những phân tử nhỏ này có thể được tận dụng và sản xuất bởi gần như tất cả vi khuẩn với những ngoại lệ giới hạn, vì vậy chúng tôi có thể coi những phân tử nhỏ này như một ngôn ngữ chung có thể được hiểu bởi hầu hết vi khuẩn”, El Halfawy nói, ông cho rằng những phát hiện này rất thú vị. “Một cách khác mà Burkholderia giao tiếp mức kháng cao của nó là bằng cách giải phóng các protein nhỏ để càn quét, và liên kết với kháng sinh gây chết người, do đó làm giảm hiệu quả của chúng”. Bước tiếp theo là tìm cách để ngăn chặn hiện tượng này.
Nghiên cứu thực hiện tại Western, được tài trợ bởi khoản trợ cấp từ Xơ nang Canađa và cũng thông qua trợ cấp Marie Curie Career Integration.
Thứ Tư, 10 tháng 7, 2013
TÁI HIỆN HOẠT ĐỘNG NÃO ỨNG VỚI MỖI CẢM XÚC
Bằng việc sử dụng thiết bị ảnh hóa cộng hưởng từ tính chức năng (fMRI), lần đầu tiên các khoa học có thể tái hiện bản đồ các trạng thái cảm xúc của con người dựa trên hoạt động thần kinh. Nghiên cứu được thực hiện bởi đại học Carnegie Mellon (CMU) hứa hẹn sẽ giúp giới khoa học vén bức màng bí ẩn về những hoạt động của chất xám.
PGS Karim Kassam, dẫn đầu nhóm nghiên cứu cho biết: "Cảm xúc là một thành phần quan trọng trong cuộc sống của chúng ta nhưng về phương diện khoa học, nó rất khó để định nghĩa." Tiêu chuẩn vàng để hiểu được cảm xúc của một người đó là hỏi trực tiếp họ. Tuy nhiên, câu trả lời không phải lúc nào cũng chính xác tùy theo thái độ và quan điểm của người được hỏi. Vì vậy, các giáo sư tại khoa khoa học xã hội và nhân văn thuộc CMU đã thực hiện nghiên cứu với một nhóm diễn viên. Họ được yêu cầu nhìn vào các từ miêu tả trạng thái cảm xúc như giận dữ, căm ghét, đố kị, sợ hãi, hạnh phúc, thèm khát, kiêu căng, buồn và e thẹn. Đồng thời với mỗi từ, các diễn viên phải cố gắng đưa bản thân về trạng thái cảm xúc đó. Não của họ sẽ được giám sát bởi fMRI và một máy tính để mô hình hóa các kết quả. Dựa trên các hình quét não, mô hình máy tính có thể đoán chính xác cảm xúc của các diễn viên khi họ được xem một loạt các hình ảnh gợi ý. Về cơ bản, mỗi cảm xúc có một tín hiệu thần kinh đặc trưng. Máy tính đã học được hình mẫu cảm xúc của não từ các diễn viên tham gia và để thử nghiệm mang tính khách quan hơn, nhóm nghiên cứu đã mời một chủ thể mới chưa từng tham gia trước đó. Kết quả là máy tính vẫn có thể xác định chính xác các cảm xúc của người này.
Nghiên cứu của CMU bắt đầu đặt ra một cơ sở để đo cảm xúc của một chủ thể. Kassam nói: "Chúng tôi nhận ra rằng có những hình mẫu cảm xúc đặc trưng phân biệt giữa các cảm xúc tích cực và tiêu cực." Bằng cách phát triển một mô hình cảm xúc từ hoạt động của não, nhóm nghiên cứu đã có một cài nhìn sâu hơn về sự khác nhau giữa các cảm xúc hỗn loạn trong tâm trí.
CÁ CÓ DẦU GIÚP CHỐNG UNG THƯ VÚ
Ăn một lượng cá ngừ, cá hồi, cá mòi hoặc các loại cá có dầu khác một hoặc hai lần mỗi tuần có thể làm giảm nguy cơ mắc bệnh ung thư vú, theo một bài báo đăng trên Tạp chí Y tế Anh (BMJ).
Các nhà nghiên cứu ở Trung Quốc đã xem xét 26 nghiên cứu công bố trước đó gồm hơn 800.000 tình nguyện viên ở Mỹ, châu Âu và châu Á có sức khỏe được theo dõi và đưa ra chi tiết thói quen ăn uống của họ.
Cá có dầu rất giàu axit béo không sinh cholesterol n-3 (PUFA n-3), tham gia trong hệ thống miễn dịch, hoạt động mạch máu và nhắn tin hóa học trong não bộ.
Nhóm PUFA n-3 có 4 phần tử, thường được viết tắt là EPA, DPA, DHA, thường có trong cá có dầu, và ALA, chủ yếu có trong các loại hạt, hạt giống và rau ăn lá.
Phân tích cho thấy những phụ nữ tiêu thụ nhiều PUFA n-3 có 14% giảm nguy cơ mắc ung thư vú so với những người tiêu thụ ít.
Nhưng tác dụng bảo vệ chỉ có cho axit béo từ cá, không cho axit ALA.
Những người cho thấy hiệu quả nhiều nhất là phụ nữ châu Á, do chế độ ăn có nhiều cá hơn ở châu Âu và châu Mỹ.
Trong thống kê, mỗi 0,1 gram axit béo cá tăng thêm mỗi ngày dẫn đến 5% giảm nguy cơ ung thư vú.
Như một hướng dẫn cho cuộc sống hàng ngày, điều này có nghĩa là mỗi người nên ăn 1 hoặc 2 phần cá có dầu mỗi tuần.
Ung thư vú được gọi là “sát thủ thầm lặng” của phụ nữ bởi nó thường chẩn đoán quá muộn.
Căn bệnh này chiếm 23% tổng số trường hợp ung thư ở phụ nữ và 14% trường hợp tử vong do ung thư trong năm 2008, theo các số liệu trong nghiên cứu.
Thừa kế di truyền cũng đóng một vai trò trong bệnh ung thư vú, nổi tiếng nhất trong các biến thể trong gen BRCA1 và BRCA2, mặc dù nó có hoặc không tương tác với các yếu tố thức ăn, lối sống và môi trường như thế nào vẫn chưa rõ ràng.
ĐƯỜNG LÀM CHO UNG THƯ SÁNG LÊN TRONG MÁY QUÉT MRI
Một kỹ thuật mới để phát hiện ra ung thư bằng cách ảnh hóa sự tiêu thụ đường bằng máy chụp cộng hưởng từ (MRI) đã được công bố bởi các nhà khoa học UCL. Bước đột phá này có thể cung cấp một phương pháp an toàn và đơn giản hơn các kỹ thuật phóng xạ tiêu chuẩn và cho phép bác sĩ X quang hình dung ra các khối u được chi tiết hơn.
Kỹ thuật mới, được gọi là “hóa chất glucoza trao đổi truyền bão hòa” (glucoCEST), dựa trên thực thế là các khối u tiêu thụ nhiều glucoza hơn các mô bình thường, khỏe mạnh để duy trì sự phát triển của chúng.
Các nhà nghiên cứu phát hiện ra rằng nhạy hóa máy quét MRI với sự hấp thu glucoza làm cho các khối u xuất hiện như những hình sáng trên bản quét MRI của chuột.
Trưởng nhóm ghiên cứu Tiến sĩ Simon Walker-Samuel, từ Trung tâm Hình ảnh Y sinh tiên tiến (CABI) của UCL cho biết: “GlucoCEST sử dụng sóng vô tuyến đề đánh dấu từ tính glucoza trong cơ thể. Sau đó nó có thể được phát hiện ra trong khối u sử dụng các kỹ thuật MRI thông thường”. Phương pháp này sử dụng một mũi đường thường và có thể cung cấp một cách rẻ, an toàn thay thế cho những phương pháp hiện có yêu cầu phải tiêm chất phóng xạ để phát hiện khối u.
Giáo sư Mark Lythgoe, giám đốc CABI và là một tác giả của nghiên cứu, cho biết: “Chúng tôi có thể phát hiện ra ung thư sử dụng cùng một lượng đường có trong một nửa thanh socola cỡ thường. Nghiên cứu của chúng tôi cho thấy một phương pháp hữu dụng và hiệu quả để ảnh hóa ung thư sử dụng MRI - công nghệ hình ảnh tiêu chuẩn có sẵn trong nhiều bệnh viện lớn”.
Ông tiếp: “Trong tương lai, bệnh nhân có thể được quét tại các bệnh viện địa phương, chứ không nhất thiết phải đến các trung tâm y tế chuyên khoa”.
Nghiên cứu được công bố trên tạp chí Thuốc tự nhiên và các thử nghiệm hiện đang được tiến hành để phát hiện glucoza trong ung thư ở người.
Theo Giáo sư Xavier Golay của UCL, một tác giả khác của nghiên cứu: “Nghiên cứu liên ngành của chúng tôi có thể cho phép các nhóm bệnh nhân dễ bị nguy hiểm như phụ nữ mang thai và trẻ nhỏ được quét thường xuyên hơn, mà không bị các nguy cơ do lượng phóng xạ gây ra”.
Tiến sĩ Walker-Samuel nói thêm: “Chúng tôi đã phát triển một bậc mới của công nghệ ảnh hóa để hình dung và định rõ vị trí của khối u, hi vọng nó sẽ cho phép chúng ta đnáh giá hiệu quả của phương pháp điều trị ung thư mới”.
Công trình này được hỗ trợ bởi nguồn tài trợ công cộng và từ thiện từ Viện Nghiên cứu Y tế quốc gia Trung tâm Nghiên cứu Y sinh Đại học Bệnh viện Luân Đôn, nghiên cứu ung thư Vương quốc Anh, Hội nghiên cứu khoa học Kỹ thuật và Vật lý (EPSRC) và Tổ chức tim mạch Anh (BHF).
Chủ Nhật, 7 tháng 7, 2013
BỘ CẢM BIẾN ĐO HUYẾT ÁP LIÊN TỤC
Một bộ cảm biến kích thước bằng đồng hồ đeo tay do Công ty nghiên cứu y học STBL, Thụy Sỹ chế tạo, có thể đo liên tục huyết áp mà không cần băng quấn đo huyết áp hoặc thủ thuật xâm lấn.
Việc đo đạc được thực hiện bởi một số bộ cảm biến, đo cùng một lúc áp lực tiếp xúc, mạch và lưu lượng máu trên bề mặt da ở xung quanh cổ tay.
Michael Tschudin, một trong số những người sáng lập công ty này cho biết: Thiết bị có thể được sử dụng vì các mục đích y tế, ví dụ như phòng ngừa cho các bệnh nhân nguy cơ cao hoặc điều trị huyết áp cao, cũng như theo dõi huyết áp và nhịp tim cho các hoạt động thể thao, giải trí và kiểm tra mức độ phù hợp với các môn thể thao trình độ cao.
Trở ngại cần khắc phục là áp lực của thiết bị lên da thay đổi liên tục, đòi hỏi các số đo rất chính. Giải pháp được đưa ra là sử dụng một bộ cảm biến làm từ các sợi áp trở để đo áp lực tiếp xúc của thiết bị trên da.
Bộ cảm biến ghi lại những thay đổi như trượt hoặc căng cơ và điều chỉnh chúng. Sợi dẫn điện phát hiện chuyển động hoặc sự thay đổi áp lực, chuyển đổi thành tín hiệu điện và sau đó, truyền đến thiết bị đo. Theo công ty STBL, điều này nâng độ chính xác lên hơn 70%.
Các thử nghiệm lâm sàng với thiết bị mới đang được thực hiện và các kết quả được cho là triển vọng. Sản phẩm sẽ có 2 phiên bản: một là thiết bị theo dõi y tế và phiên bản thứ 2 phục vụ giải trí.
CAMERA HỖ TRỢ NGƯỜI KHIẾM THỊ
Trước đây, đã có rất nhiều loại thiết bị và phần mềm hỗ trợ người bị giảm thị lực độc lập hơn trong di chuyển. Một thiết bị mới có tên là OrCam do Hãng công nghệ OrCam phát triển được xem như con mắt thứ ba của người có thị lực kém, bởi nó sẽ giúp họ thấy rõ hoàn cảnh xung quanh. Và nó còn đạt hiệu quả cao nhất trong môi trường ánh sáng bình thường và có hỗ trợ đèn flash dùng khi trời tối.
Hệ thống OrCam được thiết kế với nhiều bộ vi xử lý hơn. Cụ thể, nó bao gồm một máy vi tính bỏ túi được kết nối với một camera nhỏ lắp trên mắt kính. Khi sử dụng, người đeo kính chỉ cần chỉ tay vào vị trí họ cần nhìn rõ trước mắt, hệ thống lập tức đọc thông tin về thứ mà họ muốn. Bằng cách này, thiết bị OrCam có thể giúp người khiếm thị đọc chữ, nhận diện gương mặt, số xe buýt và kể cả tín hiệu đèn giao thông…
Vì có tích hợp tai nghe trên gọng kính, nên người sử dụng không cần thêm tai nghe rời. Bộ chuyển đổi âm thanh còn lọc được tạp âm, giúp người dùng nghe rõ thông tin dù đang ở trong môi trường ồn ào.
Thiết bị Orcam được thiết kế dành cho người khiếm thị, tuy nhiên các chuyên gia cho biết nó cũng có lợi cho những người mất trí nhớ. Dự kiến sẽ ra mắt tại Mỹ vào tháng 9 tới.
NASATI (Đ.T.V - Theo www.gizmag.com, 6/2013)
VIỆT NAM SẢN XUẤT THÀNH CÔNG GIẦY CHO BỆNH NHÂN TIỂU ĐƯỜNG
Với sự hỗ trợ của Chương trình Đối tác đổi mới sáng tạo Việt Nam - Phần Lan (IPP), Viện Nghiên cứu da giày đã chủ động đổi mới trong nghiên cứu khoa học công nghệ, đưa ra thị trường sản phẩm da giày hỗ trợ cho bệnh nhân bị tiểu đường góp phần làm giảm nhẹ các biến chứng liên quan đến đôi chân cho người bệnh.
| Giày cho người bệnh tiểu đường được bán tại Viện Nghiên cứu Da giày. |
Xuất phát từ thực tiễn
Theo thống kê của Bộ Y tế, Việt Nam hiện có hơn 4,5 triệu người mắc bệnh tiểu đường và sẽ tăng lên khoảng 8 triệu người năm 2025, trong đó tiểu đường loại 2 sẽ chiếm trên 90%. Tại Việt Nam, 50% - 60% bệnh nhân tiểu đường phải nhập viện do biến chứng bàn chân, trong đó có đến 25% trường hợp phải cưa chân. Trong khi, ngoài việc kiểm soát lượng đường huyết tốt, chỉ cần mang giày dép y tế sẽ giúp bệnh nhân không phải phẫu thuật cắt bỏ chân.
VẮC XIN ADN LÀM BẤT HOẠT CÁC TẾ BÀO MIỄN DỊCH GÂY TIỂU ĐƯỜNG TUÝT 1
Các nhà nghiên cứu thuộc Trường y Stanford, Hoa Kỳ đã chế tạo được vắc xin ADN chống bệnh tiểu đường tuýp 1 bằng cách chỉ nhằm vào một quần thể tế bào nhất định trong hệ miễn dịch mà không phá hủy toàn bộ.
Vắc xin mới gồm có một đoạn ADN đã biến đổi, chứa gen proinsulin. Các tế bào beta là tế bào duy nhất sản sinh insulin trong cơ thể, khởi đầu như là các tiền protein cho proinsulin. Giống như tất cả các tế bào khác, tế bào beta hiển thị các đoạn protein nhỏ được hình thành trên bề mặt tế bào gọi là các peptide. Các peptide proinsulin trên bề mặt tế bào beta khiến cho các tế bào CD8 mất phương hướng (CD8 là tế bào miễn dịch kiểm soát các bề mặt tế bào để phát hiện ra các peptide lạ) tấn công các tế bào beta.
Vắc xin ADN mới chỉ tìm các tế bào CD8 tấn công proinsulin, chứ không phải tất cả tế bào CD8. Nếu vắc xin làm bất họat hành vi bình thường của tất cả các tế bào CD8, nó sẽ gây trở ngại cho hệ miễn dịch của bệnh nhân và ngăn chặn khả năng đẩy lùi bệnh tật của cơ thể. Do đó, việc làm bất họat toàn bộ hệ thống không phải là sự lựa chọn tốt hơn. Đó là lý do vắc xin ADN chỉ tập trung vào các tế bào CD8 tấn công proinsulin và ngăn chặn chúng phá hủy các tế bào beta.
Thứ Tư, 3 tháng 7, 2013
HỆ THỐNG KIỂM TRA CHẤN THƯƠNG NÃO CHO VẬN ĐỘNG VIÊN
Mặc dù mọi người đều biết nguy hiểm do chấn thương não, nhưng thường khó xác định liệu tổn thương này có xảy ra không. Trong một số trường hợp, các vận động viên bị chấn thương, nhưng khi được hỏi họ lại nói vẫn bình thường. Đó là lý do Công ty Reebok và công ty phát triển thiết bị điện tử MC10 đã chế tạo mũ CheckLight, giúp vận động viên và huấn luyện viên biết khi nào một tác động đến đầu của vận động viên, có khả năng gây tổn thương não.
Mũ có thể được đội dưới bất cứ loại mũ thể thao truyền thống nào hoặc đội riêng. CheckLight gồm có một gia tốc kế 3 trục và một con quay hồi chuyển để đo gia tốc tuyến tính và gia tốc quay tương ứng. Bộ vi xử lý tích hợp phân tích đầu vào mỗi khi tác động xảy ra.
Nếu tác động đáp ứng hoặc vượt quá một số ngưỡng đã xác định trước, thì đèn LED vàng hoặc đỏ sẽ bắt đầu nháy, màu sắc của ánh sáng cho thấy mức độ nghiêm trọng của tác động. Vì đèn được treo phía dưới mũ, do đó, các huấn luyện viên và vận động viên khác có thể nhận thấy thành viên nào cần được ra ngoài để kiểm tra và có thể phải nhập viện.
Bộ vi xử lý cũng ghi lại số tác động mà vận động viên phải hứng chịu. Giả sử cùng một người thường xuyên đội mũ này, có thể theo dõi các tác động gộp lại mà họ nhận được.
Theo Công ty MC10, Checklight đặc biệt chính xác vì thực tế các gia tốc kế nằm ngay trên đầu người đội. Đối với các hệ thống khác, các cảm biến được gắn lên mũ, cung cấp nhiều dấu hiệu xảy đến với mũ hơn là với người đội nó.
CHỐNG LẠI BỆNH NHIỄM TRÙNG THEO CÁCH HIỆN ĐẠI VỚI ROBOT
Bệnh viện đồng nghĩa với sạch sẽ và nay Hệ thống y tế Đại học Loyola là trung tâm y tế thuộc đại học đầu tiên đưa việc khử trùng lên một bậc mới. Tên thân mật “Ralph” được đặt bởi nhân viên nội dịch tại Bệnh viện tưởng niệm Gottlieb và “Joe bé nhỏ” tại Trung tâm y tế thuộc đại học Loyola, Những con robot hình trụ đứng cao 0,91m thực hiện hoàn hảo công việc vệ sinh phòng. Phần đầu xoay có thể thu gọn lại phát ra các tia cực tím 15 phút trong phòng trống, khép kín để tiêu diệt có hệ thống các loại vi khuẩn.
“Loyola dẫn đầu thế giới về kiểm soát nhiễm khuẩn và hiện nay có thêm sự khử trùng phòng tự động làm củng cố cam kết liên tục của chúng tôi với sự an toàn của bệnh nhân”, thạc sĩ Jorge Parada, chủ nhiệm y khoa, Chương trình kiểm soát nhiễm khuẩn, Hệ thống y tế Đại học Loyola, cho biết. “Loyola đang làm tất cả những gì con người có thể để kiểm soát bệnh và trong đó bao gồm cả robot học”.
Theo các nghiên cứu, robot khử trùng loại bỏ vi khuẩn Clostridium difficile (C. diff) trong vòng chưa đầy 4 phút và Staphylococcus kháng Methicillin trong chưa đến 2 phút. “Ngoài ra những robot này được sử dụng để khử trùng dãy phòng phẫu thuật và phòng bệnh nhân bao gồm phòng cách ly, bỏng và cấy ghép”, Alex Tomich, quản lý phòng chồng và kiểm soát nhiễm trùng tại Loyola, cho biết. “Loyola rất nghiêm túc với trách nhiệm bảo vệ bệnh nhân, khách đến thăm và nhân viên bệnh viện của chúng tôi khỏi bị nhiễm trùng và chúng tôi đã sớm nhập công nghệ bảo vệ mới cũng như có những hoạt động tốt nhất”.
Các nhân viên nội dịch của bệnh viện dọn sạch các phòng rồi sử dụng các robot để tiệt trùng thêm vào. Tia cực tím xung tiêu diệt virut, vi khuẩn và bào tử vi khuẩn mà không tiếp xúc với con người hay sử dụng hóa chất.
Nhiễm khuẩn bệnh viện có liên quan đến khoảng 100.000 ca tử vong mỗi năm và thêm vào 30 tỉ đô la vào chi phí y tế, theo Trung tâm kiểm soát và phòng ngừa dịch bệnh.
CHỈ SỐ IQ CÓ LIÊN QUAN ĐẾN CÂN NẶNG CỦA TRẺ Ở THÁNG ĐẦU TIÊN
Nghiên cứu mới từ Đại học Adelaide cho thấy rằng số cân tăng và kích thước đầu tăng trong tháng đầu tiên của một em bé có liên quan đến chỉ số IQ cao hơn trong độ tuổi đi học mẫu giáo.
Nghiên cứu đứng đầu bởi các nhà nghiên cứu Đại học Y tế cộng đồng Adelaide, đã phân tích dữ liệu từ hơn 13.800 trẻ sinh đủ tháng.
Kết quả được công bố trên tạp chí quốc tế Pediatrics, cho thấy rằng những em bé tăng 40% cân nặng khi mới sinh trong 4 tuần đầu tiên có 1,5 điểm IQ cao hơn khi chúng được 6 tuổi, so với những em bé chỉ tăng 15% cân nặng khi mới sinh.
Những bé có chu vi đầu tăng nhiều nhất có chỉ số IQ cao nhất.
“Chu vi đầu là chỉ báo độ lớn của bộ não, vì vậy chu vi đầu của em bé càng tăng nhiều cho thấy sự tăng trưởng càng nhanh của não bộ”, tác giả chính của nghiên cứu, tiến sỹ Lisa Smithers của Đại học Adelaide trường Y tế cộng đồng cho biết.
“Nói chung, những trẻ mới sinh có tốc độ lớn nhanh hơn trong 4 tuần đầu sẽ có chỉ số IQ cao hơn về sau”, bà nói.
“Những trẻ tăng cân nhiều nhất đạt được điểm miệng IQ đặc biệt cao khi 6 tuổi. Điều này có thể do cấu trúc thần kinh cho IQ miệng phát triển sớm, có nghĩa là việc tăng cân nhanh trong suốt thời kỳ mới sinh có lợi ích nhận thức trực tiếp với trẻ”.
Những nghiên cứu trước đó đã cho thấy mối liên quan giữa chế độ ăn của trẻ sơ sinh và chỉ số IQ, nhưng đây là nghiên cứu đầu tiên tập trung vào lợi ích cho IQ của việc tăng cân nhanh trong tháng tuổi đầu tiên cho trẻ mới sinh khỏe mạnh.
Tiến sĩ Smithers cho biết nghiên cứu nhấn mạnh sâu hơn sự cần thiết của việc cho trẻ sơ sinh ăn đầy đủ.
“Chúng tôi biết rằng nhiều bà mẹ gặp khó khăn thành lập thói quen cho con bú trong những tuần đầu tiên sau khi sinh”, bà nói.
“Những khám phá của nghiên cứu này cho thấy nếu trẻ gặp vấn đề cho ăn, cần phải được can thiệp sớm trong việc này”.
Thứ Ba, 2 tháng 7, 2013
XÁC ĐỊNH NHÓM MÁU VỚI GIẤY THỬ DIPSTICK
Các nhà khoa học cho biết đã phát triển thành công que thử dipstick cho phép xác định nhóm máu người với giá thành rất rẻ.
Theo các nhà khoa học, việc xác định nhóm máu của bệnh nhân là một bước quan trọng trong khâu truyền máu. Có 4 nhóm máu chính: A, B, AB và O. Truyền sai nhóm máu cho bệnh nhân có thể gây hậu quả nghiêm trọng. Các phương pháp xác định nhóm máu hiện nay cần sử dụng nhiều thiết bị rất phức tạp và không phải lúc nào cũng sẵn có, đặc biệt là tại các nước nghèo trên thế giới. Do đó, giấy dipstick là một giải pháp tối ưu, cho kết quả kiểm tra nhanh và giá thành rẻ.
Giấy thử dipstick được tẩm thêm các thể kháng với thể nguyên của tế bào hồng cầu, cho phép xác định chính xác nhóm máu của bệnh nhân. Thí nghiệm trên mẫu máu của tình nguyện viên, các nhà khoa học cho biết khi nhỏ một giọt máu lên giấy dipstick, màu sắc thay đổi của giấy sẽ tiết lộ nhóm máu. Độ chính xác của kết quả tương đương với các phương pháp thử máu thông thường.
Các nhà khoa học cho biết, loại dipstick này sẽ được sử dụng rộng rãi và rất hữu hiệu trong công tác y tế và chăm sóc sức khỏe tại các nước đang phát triển. Ngoài ra, giấy dipstick cũng có thể được sử dụng trong ngành thú y để xác định nhóm máu của các loài động vật.
SẢN XUẤT NẤM LINH CHI TỪ MÙN CƯA CÂY CAO SU
Hợp tác xã nông nghiệp Phú Lương, huyện Phú Vang, tỉnh Thừa Thiên-Huế, đã sản xuất thành công nấm linh chi, một dược liệu quý, từ mùn cưa của các loại cây có mủ trắng, nhất là mùn cưa cây cao su rất thông dụng và dễ kiếm trên địa bàn.
Thành phần để sản xuất nấm linh chi bao gồm mùn cưa gỗ cây cao su, bột cám bắp hoặc gạo và mùn gỗ lim; với tỉ lệ theo thứ tự lần lượt là 96% mùn cưa cao su, 5% bột cám bắp hoặc gạo, 1% mùn cưa gỗ lim. Đây là tỉ lệ hợp lý có được sau nhiều năm sản xuất và phải tuân theo một quy trình kỹ thuật hết sức nghiêm ngặt.
Sau khi các nguyên liệu trộn với nhau, được ủ trong 7 ngày, đảo đều 3 ngày một lần. Việc ủ và đảo như vậy giúp các thành phần giá thể vừa có độ phân huỷ tương đối vừa ngấm các hợp chất, hoạt chất của mỗi thành phần vào nhau.
Sau thời gian ủ xong, nguyên liệu được đóng vào túi nilông (loại túi nilông chịu nhiệt đặc biệt, không bị giãn ở nhiệt độ 100 độ C), mỗi túi chứa 1kg nguyên liệu hỗn hợp nói trên. Các túi này sau đó được đưa vào lò thanh trùng bằng nước sôi, ngâm với thời gian là 12 tiếng đồng hồ. Sau đó, chúng được vớt ra để nguội cũng kéo dài 12 tiếng đồng hồ.
Theo ông Nguyễn Thụ, chủ nhiệm hợp tác xã, việc nấu và để nguội kéo dài như vậy là để loại bỏ các loại khí độc sản sinh ra trong quá trình ủ và nấu, đồng thời, tạo môi trường sống tốt nhất cho men giống của nấm khi cấy vào giá thể.
UỐNG RƯỢU SÂM BANH CÓ LỢI CHO SỨC KHỎE CỦA TIM
Mới nhất của các nhà khoa học Anh phát hiện, uống một lượng rượu sâm banh vừa đủ sẽ có ích trong việc tuần hoàn máu, có lợi đối với sức khỏe của tim
![]() |
Các nhà khoa học thuộc trường Đại học University of Reading, Anh phát hiện, trong quả nho đỏ và nho trắng sản xuất rượu sâm banh có chứa một loại polyphenol, nó có thể kéo dài thời gian lưu tồn của nitric oxide trong máu, mà nitric oxide có tác dụng thúc đẩy sự lưu thông của máu, từ đó giảm được huyết áp, ngăn chặn được sự hình thành hiện tượng máu đông.
Các nhà khoa học nói, polyphenol là một chất chống ôxy hóa, nó tồn tại trong quả nho, trong lá chè, trong chocolate và trong một số loại rau quả. Khi uống rượu sâm banh, polyphenol trong rượu sẽ tham gia vào sự tuần hoàn máu, đồng thời phát sinh ra những tác dụng cho hệ thống tuần hoàn máu, cải thiện được tình trạng lưu thông máu, từ đó giảm được nguy cơ mắc các bệnh về tim mạch. Các nhà khoa học cũng nói, những nghiên cứu về tác dụng lâu dài của ruợu sâm banh vẫn cần phải tiến hành sâu hơn nữa.
Đăng ký:
Nhận xét (Atom)









.jpg)







